Sunday, July 26, 2015

HÙNG CA DIÊN HỒNG - Nguyễn Khắc Phục

1
Con dân nước Việt
Biết mình đang ở đâu trong thế giới
Sông ngắn hơn Amazon
Núi thấp hơn Everest
Việt Nam
Tay làm hàm nhai
Thạo cày cuốc, chăn tằm và chài lưới
Sức không đủ bao trùm mấy cõi
Chí không xa mong dẫn dắt loài người
Chỉ cốt ấm ba tháng hè, no ba ngày tết
Tuần chay nào cũng có nước mắt
Bán anh em xa mua láng giềng gần
Thương người như thể thương thân
Việt Nam
Chín bỏ làm mười
Cười như thở cả buồn vui hờn giận...

2
Con dân nước Việt
Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh
Giặc vừa tan đã nhấm nháp chiến công
Há miệng chờ sung
Say ngất ngưởng mơ rừng vàng biển bạc
Vua sướng đằng vua, quan sướng đằng quan
Bán tước mua danh
Mở quốc khố lấy tiền đi đánh bạc
Khép cửa biển, ngại giao thương xứ khác
Ngồi trong xó khen nhau trích cú tầm chương
Mặc trăm họ đói rét, lầm than, oan khuất
Cha già mẹ héo, vợ goá con côi
Tiếng khóc than tận hang cùng ngõ hẻm
Kẻ sĩ bịt mắt bưng tai
Hết chầu chực thềm rồng chờ ban lộc
Lại véo von ca ngợi thủa vàng son
Quanh cút rượu bỗng dưng mau nước mắt
Khóc người cũ muôn năm
Khóc cho cả những giấc mộng anh hùng đã chết
Bậc thức giả dã tràng xe cát
Bao nhiêu "Thất trảm sớ" bị bỏ quên
Bao nhiêu "Thiên hạ đại thế luận" bị giễu cợt
Bên hồ Gươm không còn ai bàn chuyện vua Lê...

3
Con dân nước Việt
Biết nhà dột từ nóc
Dù những ông vua hiền minh đã bỏ ngai vàng
Lên núi cao tìm Phật
Không cứu nổi những vương triều tụt dốc
Đất nước rối ren, vua mới lại đăng quang
Béo cò khi đục nước
Mềm nắn rắn buông
Trước Nam sau Bắc
Muốn lấy phải cho
Thời thế đổi thay
Bụng dạ thiên triều chẳng khác
Sai bầy sứ nghênh ngang
Đi giữa Thăng Long
Coi triều đình như cỏ
Mắt cú vọ hau háu ngắm mồi ngon
Rồi hùng hùng hổ hổ
Quân xâm lược tràn sang
Nhân danh thiên mệnh
Nhân danh "diệt tà, phò chính"
Nhân danh "dạy văn hiến cho ngoại man"
Chụp mũ quốc vương lên những đầu Chiêu Thống
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ dưới hầm tai vạ
Đất tổ tiên lại quay về quận huyện
Mồ cha ông vó ngựa giặc giày tan
Tháp Báo Thiên bị cưa đổ máu còn loang
Lũ thái thú ngồi đếm ngọc trai, sừng voi và tê giác
Đồ cống nạp sũng máu người, nỗi hổ nhục cha ông
Lá cờ rũ như tay người hấp hối...

4
Con dân nước Việt
Ghét giặc như nhà nông ghét cỏ
Hào kiệt thời nào cũng có
Một cây làm chẳng lên non
Chụm lại thành hòn núi lớn
Thuận vợ thuận chồng biển Đông tát cạn
Hổ dữ cũng sợ bầy trâu
Lấy chí nhân thay cường bạo
Nước thắng Lửa
Yếu thắng Mạnh
Biết lấy đoản binh vượt qua trường trận
Biết dẹp bỏ những nghi kị bất hoà, tháo mũi sắt ra khỏi đầu gậy chống
Biết mở cửa hoàng cung đón bô lão trả lời vua
Hoà hay Đánh?
Bản hùng ca Diên Hồng tiếp lửa bến Bình Than
Cọc Bạch Đằng đã sừng sững trồi lên!
Máu cháy sôi trong hốc mắt những hồn oan
Giục người sống cầm gươm đi chiến đấu
Những trận đánh để đời Đống Đa, Vạn Kiếp, Chi Lăng...
Đánh một trận sạch không kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông
Đánh cho biết nước Nam anh hùng, có chủ
Trăng Như Nguyệt chớp loè hùng khí
Nam Quốc Sơn Hà
Bản Tuyên Ngôn Độc Lập đầu tiên dựng thế trận Diên Hồng hùng vĩ
Xã tắc hai phen lao ngựa đá
Non sông muôn thủa vững âu vàng!

5
Con dân nước Việt
Biết thế kỷ hai mươi giông bão
Biết nhà thơ gọi đúng bệnh mà đau
Dân hăm nhăm triệu ai người lớn
Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con
Lịch sử hôm nay có đi lại lối mòn
Nước đến chân mới nhảy
Đáng giận không, Đấng Nhân chủ Loa Thành
Phải đợi thần Kim Quy hiện lên mới biết giật mình
Giặc ở ngay sau lưng bệ bạ!
Giặc có phải Mỵ Châu đâu
Sao nỡ chém bay đầu tình cốt nhục
Giặc ở ngay sau lưng người cầm cân nẩy mực
Mắt mải ngắm đám quần thần nịnh hót
Tai mải nghe tiếng xưng tụng vang trời
Mũi mải ngửi mùi phấn son cung nữ
Óc mơ màng lưu danh thiên cổ
Mà trái tim không đập nhịp với lương dân
Chí đã nhụt như giáo gươm rỉ sét
Tâm càng mờ mịt
Đại vận mệnh quốc gia
Ngàn cân treo sợi tóc
Quên mối lo giặc áp sát hiên nhà
Chỉ nhăm nhe tượng đồng bia đá
Càng không hay đã đánh mất nỏ thần
Là sức mạnh của toàn dân cố kết
Khi đã lìa xa thế trận Diên Hồng
Ắt như kiến loay hoay trong chảo lửa
Trút tội tình lên cô gái đáng thương
Mỵ Châu ơi máu của nàng không phải nuôi trai bể
Mà sôi lên nhức nhối nỗi đau đất nước giết oan nàng...

6
Con dân nước Việt
Biết chọn đường đi là việc khó muôn trùng
Giữa thế giới ngổn ngang muôn lối rẽ
Đi về hướng tây hay trực chỉ phía đông
Đón mặt trời lên hay ngắm ánh sao hôm
Muốn đi hướng nào cũng phải ra tới bể
Cuộc chiến đầu tiên là lột xác chính mình
Phải thoát ra cái bóng mấy nghìn năm đè nặng
Du du bất tức
Quẩn quanh không thở được
Lấy chính cuộc vật lộn của mình trong bão táp
Để lường xem con tàu Việt Nam chịu sóng cấp bao nhiêu
Đi theo hải trình nào là tốt nhất
Lựa ngọn triều nào mau đến được tương lai
Với một chiếc la bàn chỉ hướng: Ngày Mai
Người thuyền trưởng khôn ngoan có khi phải chọn đường vòng
Tránh đá ngầm hay ghé các bến bờ tiếp lương và nước ngọt
Nhưng bên tai luôn văng vẳng tiếng tiền nhân
Mọi con sông đều chảy từ một nguồn và hướng về một bể
Đồng nguyên và đồng quy sẽ mở cửa Diên Hồng
Xưa tam giáo mà nay nhiều hơn thế
Đi với Bụt mặc áo cà sa đi với ma mặc áo giấy
Xanh vỏ đỏ lòng
Muốn ăn oản thì năng lễ Phật
Đi ngày đàng học sàng khôn
Vẫn không ra ngoài cách vượt vũ môn
Cá chép hoá rồng
Bầu thương bí
Nhiễu điều phủ giá gương
Gạn đục khơi trong
Của chồng công vợ
Của cho là của nợ
Thiên hạ đãi chân giò
Ngày mai phải thò chai rượu
Nước nghèo, thuyền yếu
Vượt đại dương sẽ mắc nợ cỡ đại dương
Buôn có bạn bán có phường
Liệu cơm gắp mắm
Con rô cũng tiếc con giếc cũng ham
Tham thì thâm
Chỉ tội nghiệp đời cháu đời con kéo cày giả nợ...
Bụt chùa nhà không thiêng
Người biết việc thành nộm Rơm
Giả điếc giả câm
Rồi điếc thật, câm thật
Thuyền đua thì lái cũng đua
Trống đánh xuôi kèn thổi ngược
Quân hồi vô phèng
Trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã hay
Mười ba cũng ừ mười tư cũng gật
Sư bảo sư phải vãi bảo vãi hay
Một tấc tới giời
Rồng leo cây nghệ
Quạ khoác lông công
Mặt trời mọc phía đông
Lại quang quác bài ca phương khác
Tham con săn sắt bỏ con cá rô
Khôn nhà dại chợ
Không biết sợ bút sa gà chết
Kí một chữ buông xuôi đã mắc nợ tổ tiên
Quên bài học Cổ Loa giặc ở sau lưng
Lộng giả thành chân
Nhìn gà hoá cuốc
Cha dạy học con đốt sách
Ừ, thì lịch sử giao ta phải thắng trận này
Máu xương bao triệu triệu người mới có được hôm nay
Sao vội quên lời dặn dò trong Đại Cáo
"Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế kì diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay
Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới..."
Sự kiêu ngạo đã biến chiến công thành tử huyệt
Tự cô lập mình giữa trùng điệp vòng vây
Những quyết sách chết người tàn phá nốt những gì đạn bom chưa kịp phá
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Bỏ ngoài tai lời dạy của tiền nhân
Lắm vãi không ai đóng cửa chùa
Bóc ngắn cắn dài
Dòn cười tươi khóc
Pháo hoa chưa tàn dân tán loạn vùng biên
Lớp chết ngoài khơi thây vùi bụng cá
Lớp chết đói chết đau chết đạn chết mìn
Ếch kêu trong vũng tre ngâm
Tiếng thét Diên Hồng có thấu tới trời xanh?

By N.K.P - 19/12/2008

Tuesday, April 21, 2015

Video Collection of The Vietnam War

1. Battlefield Vietnam
https://www.youtube.com/watch?v=6LMYb-LvE6Y

Tuesday, April 14, 2015

Vua Gia Long với nhà Tây Sơn: Tấn bi kịch lịch sử

Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát. Ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?

Bài viết của nhà nghiên cứu lịch sử Võ Hương An.




*     *
*
Lời người viết: Mùa Vu lan năm Canh dần 2010, tự nhiên tôi nhận được nhiều email của thân hữu gởi đến – có ngày nhận hai ba cái — kèm theo truyện ngắn “Một ngày lễ Vu lan sầu thảm” của Tịnh Thuỷ, viết về sự tàn ác và hèn hạ của vua Gia Long trong việc hành hình vợ chồng Trần Quang Diệu & Bùi Thị Xuân — hai dũng tướng của Tây Sơn — và gia đình (mẹ già và con gái). Nội dung của các điện thư hoặc có ý hỏi tôi sự thật có đúng như vậy không, hoặc tỏ ra đồng ý với tác giả, chê trách vua Gia Long tàn ác. Bài viết này xin xem như một câu trả lời, sự thật lịch sử là một kinh nghiệm chung ở đời…

Đôi nét lịch sử
Sau 25 năm chiến đấu kiên trì và gian khổ, ngày mồng 3 tháng 5 năm Tân Dậu (13/6/1801) Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô cũ Phú Xuân, đuổi vua tôi Cảnh Thịnh chạy dài ra Bắc. Một năm sau, ngày mồng 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1/6/1802), tuy chưa chính thức lên ngôi hoàng đế (1) nhưng theo lời đề nghị của bầy tôi, vua ban hành niên hiệu Gia Long, mở ra một triều đại mới của nhà Nguyễn. Vào đầu thế kỷ XX, vua Khải Định đã chọn ngày này ( mồng 2 tháng Năm âm lịch) làm ngày quốc khánh của nước Đại Nam, đặt tên là ngày Hưng quốc khánh niệm. Những ai ở lứa tuổi trên 70 ở Trung kỳ, từng cắp sách đến trường có thể còn nhớ đôi chút về ngày này, nhất là ở Huế. Đó là ngày mừng đất nước thống nhất. Niên hiệu Gia Long bao hàm trong ý nghĩa đó — vua muốn nói ông là người đã đi từ Gia Định thành tới Thăng Long thành để thống nhất đất nước. (Võ Hương-An, Thăng Long và Gia Long )
Ngay sau khi chiếm lại Phú Xuân và trong khi vua Cảnh Thịnh của Tây Sơn đang còn làm chủ ở miền Bắc thì Nguyễn Vương đã cho “Phá hủy mộ giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ, bổ săng, phơi thây, bêu đầu ở chợ” (Thực lục I, tr.473).
Sau khi chiếm được Bắc hà, bắt được trọn gói vua tôi, anh em vua Cảnh Thịnh, hoàn thành cuộc thống nhất đất nước từ Nam chí Bắc, vua Gia Long khải hoàn về kinh. Ngày giáp tuất tháng 11 năm Gia Long thứ 1 (7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802) vua đem tù binh ra làm lễ hiến phù ở Thái Miếu. Hiến phù là lễ trình diện tù binh trước bàn thờ tổ tiên, và Thái Miếu là nơi thờ 9 đời chúa Nguyễn. Sau lễ,
“Sai Nguyễn Văn Khiêm là Đô thống chế dinh Túc trực, Nguyễn Đăng Hựu là Tham tri Hình bộ áp dẫn Nguyễn Quang Toản [vua Cảnh Thịnh] và em là Quang Duy, Quang Thiệu, Quang Bàn ra ngoài cửa thành, xử án lăng trì, cho 5 voi xé xác, đem hài cốt của Nguyễn Văn Nhạc và Nguyễn Văn Huệ giã nát rồi vất đi, còn xương đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ [bài vị] của vợ chồng Huệ thì đều giam ở Nhà đồ Ngoại [Ngoại Đồ Gia, cơ quan chế tạo của triều đình, sau gọi là Võ Khố] (năm Minh Mệnh thứ 2 đổi giam vào ngục thất cấm cố mãi mãi). Còn đồ đảng là bọn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng đều xử trị hết phép, bêu đầu cho mọi người biết. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài.” (Thực lục I, tr.531)
Trong chiếu bố cáo cho toàn dân được rõ về lễ hiến phù ngày 7 háng 11 Nhâm tuất, có câu mở đầu : “Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu …” và kết thúc bằng câu “Nhạc Huệ trời đã giết rồi, cũng đem phanh xác tan xương, để trả thù cho Miếu Xã, rửa hận cho thần nhân.” (Thực lục I, tr.532,533)
Theo tài liệu của Bissachère, trước khi nhận lãnh cái chết thảm khốc, anh em vua Cảnh Thịnh còn bị bắt phải chứng kiến cảnh lính tráng tiểu tiện vào sọt đựng hài cốt của cha (Nguyễn Huệ) và bác (Nguyện Nhạc) (theo hồi ký của Bissachère) trước khi hài cốt bị đem “giả nát rồi vất đi”.
Xem thêm:


Phẩm bình của lịch sử
Tại miền Nam trước 1975, có hai bộ thông sử tiếng Việt thông dụng là Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim và Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn. Viết về vua Gia Long, cả hai bộ sử đều giống nhau ở một điểm: có phê phán sự hẹp lượng của vua Gia Long qua việc giết hại công thần (vụ án Nguyễn Văn Thành và vụ án Đặng Trần Thường), có kể rõ việc hành hình trả thù Tây Sơn nhưng hoàn toàn không bình luận, phê phán gì đến sự “quá tay” trong việc này. Tại sao?
Hoa Bằng, tác giả Quang Trung, Anh hùng dân tộc (Nxb Bốn Phương, Saigon, 1953) khi kết luận thiên biên khảo đầu tiên bằng tiếng Việt về đề tài này đã ngậm ngùi viết:
“Vậy mà Nã [Phá Luân, Napoléon I] được gởi nắm xương trong đền Invalides để cho người sau hoài niệm, viếng thăm ; còn Quang Trung : mả phải đào, xương phải tán, dòng dõi bị chu di, sự nghiệp liệt liệt oanh oanh gói tròn trong một chữ ‘Ngụy’”
Nhà viết sử Trần Gia Phụng trong Nhà Tây Sơn (Nxb Non Nước, Toronto, 2005) cũng đã có lời bình phẩm nhẹ nhàng nhưng nghiêm khắc:
“Cuộc trả thù được vua Gia Long xem là ‘ nghĩa lớn Kinh Xuân Thu’ nhưng hành hạ di cốt địch thủ trước mắt con cái họ trái hẳn với đạo lý cổ truyền của dân tộc.” (tr.240)
Phê bình mạnh tay, mạnh mẽ hơn có Quách Giao :
Nhà Nguyễn đối với nhà Tây Sơn vô cùng khắc nghiệt. Quật mả Vua Thái Ðức, Vua Quang Trung, chém giết dòng họ, tướng tá nhà Tây Sơn đến thế, Nguyễn Phúc Ánh chưa cho là đủ, còn truyền đào mồ mả của cha ông hai nhà anh hùng áo vải và của những người đã theo nhà Tây Sơn và đã chết trước khi non sông đổi chủ.
Còn đối với Nhà Tây Sơn thì Nguyễn Phúc Ánh chém tất cả dòng họ, từ Vua Bửu Hưng [Cảnh Thịnh], cho tới một em bé mới sanh mà đã lọt vào ngục thất. Lại truyền đào mả Vua Thái Ðức và Vua Quang Trung, nghiền xương đổ xuống bể. Còn sọ thì đem xiềng nơi ngục thất trong Hoàng Cung để làm lọ đi tiểu.
Ðể nhổ cỏ cho sạch gốc, Nguyễn Phúc Ánh sức mọi nơi truy tầm những bà con gần xa của họ Nguyễn Tây Sơn, và những Tướng Tá của Tây Sơn còn trốn tránh nơi sơn dã.
Hai người con Vua Thái Ðức là Văn Ðức, Văn Lương và cháu nội, con Nguyễn Bảo, là Văn Ðẩu, nương náu nơi Mộ Ðiểu, Vùng An Khê. Vua tôi Nhà Nguyễn biết nhưng sợ người Thượng, không dám đến bắt. Mãi đến năm Minh Mạng thứ 12 (1832) thấy tình thế đã yên, ba chú cháu mới đem nhau về thăm quê cũ ở Kiên Mỹ. Bọn bất lương đi mật báo. Quân Nhà Nguyễn đến vây bắt giải về Phú Xuân giết chết.
…Ngót 150 năm, Nhà Nguyễn cố làm cho người người quên Nhà Tây Sơn. Những người yêu nước vẫn luôn nhớ đến Nhà Tây Sơn, ngọn bút yêu nước vẫn chép đi chép lại, vẫn tìm tòi trong nơi khuất tịch những tài liệu còn dấu cất, để viết về Nhà Tây Sơn.
Và tiếng Anh hùng Áo Vải, Anh Hùng Dân Tộc mãi còn vang, khi nhẹ nhàng, khi mạnh mẽ, trên đất nước Việt Nam, từ Nam chí Bắc.

Còn Nhà Nguyễn đã làm được gì?
Có người bảo rằng đã thống nhất Bắc Nam.
Xem thêm:

Ðó là quên rằng chính Nhà Tây Sơn đã thống nhất Bắc Nam, rồi Nguyễn Phúc Ánh đánh chiếm trên tay Ðông Ðịnh Vương và Cảnh Thịnh. Sau bao phen bể nổi dâu chìm Nhà Nguyễn còn để lại tiếng Rước voi, cõng rắn.
Trăm năm bia đá thời mòn
Nghìn năm bia miệng mãi còn trơ trơ.
Trong văn hóa phương Tây, đánh nhau là đánh nhau nhưng không có chuyện trả thù kẻ chiến bại một cách tàn nhẫn, nhất là đối với người đã chết, Do đó, khi bắt gặp hành động “dã man” này của vua Gia Long, Stanley Karnow, tác giả tiếng tăm bộ sử VietNam, A History (Penguin Book, 1984) đã viết:
“Ông ta tỏ ra chẳng khoan dung chút nào đối với kẻ thù đã chiến bại, dù đã chết hay còn sống. Binh sĩ của ông đã quật xương cốt của một cặp vợ chồng cầm đầu Tây Sơn đã chết [Nguyễn Huệ], tiểu tiện vào xương cốt đó trước sự chứng kiến của con cái họ và những người này sau đó tay chân bị trói vào 4 con voi và xé nát.” (p.65) (He showed no mercy to his beaten adversaries, dead or alive. His soldiers exhumed the bones of a deceased Tayson leader and his wife and urinated on them before the eyes of their son, whose limbs were then bound to four elephants and ripped apart.)
Nếu Nhà Tây Sơn không có Quang Trung Nguyễn Huệ với chiến thắng quân Thanh và quân Xiêm vang dội trong lịch sử thì hành động “vì 9 đời mà trả thù” của vua Gia Long chưa chắc đã bị búa rìu dư luận nhiều như đã xảy ra. Ngoài việc ghi chép khá rõ ràng của Quốc Sử Quán Nhà Nguyễn thì hồi ký sống động của giáo sĩ De la Bissachère về việc hành hình trả thù của vua Gia Long đối với anh em và vua tôi Cảnh Thịnh (2), đã gây tác động tâm lý không nhỏ trong giới sử học Đông Tây (Thực ra ông này không chứng kiến cuộc hành hình mà chỉ nghe ai đó kể lại). Thử đi vào mạng lưới toàn cầu, gõ mấy từ khóa như Gia Long, Tây Sơn, Nguyễn Huệ, thì tha hổ đọc công luận phẩm bình, đa số đều chê Gia Long về việc này. Điều này cũng dễ hiễu thôi vì hào quang chiến thắng quân Xiêm và quân Thanh của vua Quang Trung rực rỡ quá, đã che mất sự thật thê thảm ở bên trong. Thêm vào đó, với mấy chục năm lịch sử triều Nguyễn do Gia Long khai sáng, đã bị miệt thị thậm tệ, đã ảnh hưởng không ít trên sự nhận thức của người đọc, nhất là giới trẻ. Mặc dầu ngày nay gió đã đổi chiều, đã bắt đầu có sự chuyển biến trong nhận thức về sự nghiệp của Nhà Nguyễn (3) nhưng không thiếu chi người vẫn tư duy trong nếp cũ.

Câu hỏi đặt ra
Các sách sử Việt Nam viết về hành vi “tàn ác” trả thù Tây Sơn của vua Gia Long đều lấy tài liệu từ các bộ chánh sử của Nhà Nguyễn (Đại Nam Thục lục đệ nhất kỷ, Đại Nam Liệt Truyện ), trước khi biết đến các chi tiết khác do nguồn sử liệu Tây phương cung cấp. Sử thần Nhà Nguyễn trong Quốc Sử Quán đã không giấu diếm gì cả, viết trắng chuyện này ra cho hậu thế cùng biết, người sau chỉ lặp lại, chỉ thêm lời bình phẩm nặng nể mà không có bớt.
Riêng người viết, trong niềm ngưỡng mộ chiến thắng oanh liệt hào hùng của vua Quang Trung trước quân Xiêm và quân Thanh xâm lăng, ban đầu thì cũng đồng ý với những bình phẩm chê trách hành động của vua Gia Long đối với Tây Sơn là thái quá, tàn nhẫn, nhưng sau đó, khi được biết những nguồn tin khác, không khỏi đắn đo tự hỏi và tìm lời giải đáp.
Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát (4)[1] .Ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?
Sau khi làm chủ Bắc hà, vua “Sai chọn người dòng dõi họ Trịnh để giữ việc thờ cúng họ Trịnh. Trước là khi đại giá Bắc phạt, người họ Trịnh ai ai cũng sợ bị giết. Vua thấu rõ tâm tình, xuống chiếu dụ rằng: ‘Tiên đế ta với họ Trịnh vốn là nghĩa thông gia. Trung gian Nam Bắc chia đôi, dần nên ngăn cách, đó là việc đã qua của người trước, không nên nói nữa. Ngày nay, trong ngoài một nhà, nghĩ lại mối tình thích thuộc bao đời, thương người còn sống, nhớ người đã mất, nên lấy tình hậu mà đối xử. Vậy nên cùng báo cho nhau, họp chọn lấy một người trưởng họ, giữ việc thờ cúng để giữ tình nghĩa đời đời.” (Thực lục I, tr.508) Vậy là Trịnh Tư được giao lo việc thờ cúng, họ Trịnh được cấp 500 mẫu ruộng để lấy huê lợi cúng tế hàng năm, 247 người họ Trịnh được xét tha thuế dinh và miễn binh dao (đi lính và chịu sưu dịch).
Ai cũng biết La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, được coi như một Gia Cát Lượng của vua Quang Trung, một cố vấn tối cao, được vua quan trên dưới đều kính nể (4 lần vua khẩn khoản mời ra giúp, cuối cùng nhận chức Viện trưởng Viện Sùng Chính năm 1790, giúp vua chấn chỉnh việc giáo dục, văn hóa, giúp vua chọn đất Nghệ An làm Phượng Hoàng trung đô…). Khi Nguyễn Vương tái chiếm Phú Xuân, ông đang ở Huế giúp vua Cảnh Thịnh nhưng không chạy theo khi vua đào thoát (hay chạy theo không kịp?) và dường như không bị bị bắt mà chỉ quản thúc tại gia, dù phía Nguyễn Vương biết rõ lý lịch, sau đó Nguyễn Vương đã ra lệnh
“Thả xử sĩ ở Nghệ An là Nguyễn Thiếp về. Thiếp là người xã Nguyệt Áo huyện La Sơn, đậu Hương tiến đời Lê, làm quan huyện Thanh Chương, bỏ quan về nhà. Khi nhà Lê mất, theo lời mời của Nguyễn Quang Toản mà ở lại Phú Xuân. Tới nay vào yết kiến, xin trở về làng. Vua [Nguyễn Vương] dụ rằng ‘Khanh là người tuổi tác, đạo đức, rất được người ta trông cậy. Sau khi trở về núi nên khéo léo đào tạo lấy nhiều học trò để ra sức phò giúp thịnh triều, khỏi phụ tấm lòng rất mực mến lão kính hiền của ta.’ [người viết in đậm]. Bèn sai quan quân đưa về (Thực lục I, tr.445)
Lại năm 1803, phái đoàn do vua Cảnh Thịnh phái đi sứ Nhà Thanh (gồm Lê Đức Thận, Nguyễn Đăng Sở và Vũ Duy Nghi) bị trả về nước, bị quan Bắc thành bắt giải về Kinh, vua Gia Long tha hết cho về quê. Lại khi Bộ Hình tâu xin vua định đoạt số phận của người vợ lẻ Nguyễn Nhạc cùng 2 người em họ tên Đại và Vạn bị bắt thì vua nói: “Vợ lẻ Nhạc là một người đàn bà thôi. Bọn Đại tuy là thân đảng của giặc Nhạc mà không dự binh quyền, nay Nhạc chết rồi, giết đi thì có ích gì?” (Thực lục I, tr.544)
Những chứng dẫn nho nhỏ đó cho thấy vua Gia Long là con người phải chăng, tùy theo người, theo trường hợp mà có quyết định tha hay phạt , chứ không phải bạ đâu giết đó, thà giết lầm hơn bỏ sót. Vậy tại sao giết Tây Sơn chưa đủ, phải hành hạ mới hả, kể cả nắm xương khô. Thù chi mà dữ vậy?

Sự thật là đây
Về chuyện vua Gia Long trả thù Tây Sơn, nhà viết sử Trần Gia Phụng đã đi xa hơn các học giả đi trước khi lần đầu tiên ông phân tích chính xác rằng:
“Không kể cá nhân ông bị quân đội Tây Sơn truy đuổi nhiều lần suýt chết, vua Gia Long thâm thù nhà Tây Sơn vì ba việc chính: thứ nhất, năm 1777 Định Vương Nguyễn Phúc Thuần [chú ruột vua Gia Long], Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương [em chú bác ruột] và Nguyễn Phúc Đồng [anh ruột] bị quân Tây Sơn bắt giết ở Gia Định. Thứ nhì, hai người em [ruột] của Gia Long là Nguyễn Phúc Mân và Nguyễn Phúc Thiển bị chết về tay quân Tây Sơn năm 1783. Thứ ba, vua Quang Trung cho quật mộ của Nguyễn Phúc Côn (phụ thân của Gia Long), đem hài cốt đổ xuống sông năm 1790.” (Việt Sử Đại Cương, Tập 2, tr.445)
Chừng đó nợ máu nghe đã nặng (5 người cật ruột), nhất là món nợ thứ 3, nhẹ vật chất mà nặng tâm linh và đạo đức, ít người biết. Nhưng kể vậy cũng chưa đủ.
Khi đọc câu mở đầu của chiếu bố cáo lễ hiến phù: “ Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu…” * (Thực lục I, tr.532) tôi không khỏi mỉm cười một mình với ý nghĩ : thiệt mấy ông đời xưa văn chương lớn lối quá, cái chi cũng lôi điển tích với sách vở ra, tô vẻ cho long trọng. Nhưng sau đó, khi đọc kỹ Thực lục mới biết mấy chữ vì 9 đời mà trả thù mang một ý nghĩa rất thực, rất cụ thể, bên cạnh màu sắc điển tích văn chương tô điểm.
* “Xuân Thu, Công Dương truyện: Trang công năm thứ 4 chép: Tề Tướng công giết nước Kỷ, vì ông tổ xa đời là Ai công mà phục thù, đời gọi là mối thù 9 đời.” Chú thích của dịch giả Thực lục I, tr.532.
Ngày 13/6/1801, Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô Phú Xuân, nơi ông đã vội vã ra đi khi mới 13 tuổi (ta), và ròng rã 27 năm mơ ước được trở về. Tuy đã làm chủ được Phú Xuân nhưng lực lượng hùng hậu của Tây Sơn Cảnh Thịnh vẫn còn ở bên kia lũy Trường Dục (Quảng Bình), vậy mà đến đầu tháng 8 năm đó đã lo sửa sang lăng mộ tổ tiên và cấp tốc hoàn tất ngay trong tháng. Sao việc này lại làm gấp rút còn hơn cả công tác sửa sang thành trì, xây đồn đắp luỹ để phòng chống Tây Sơn? Xin đọc kỹ đoạn ghi chép của Thực lục sau đây, có thể thấy được lý do thúc đẩy (những chữ in đậm là do người viết, chữ ghi giữa hai ngoặc đứng [x] là chú giải của người viết):
“Tháng 9, ngày Ất hợi [ 9/8/1801], sửa lại sơn lăng.
“Trước kia giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ tham bạo vô lễ, nghe nói chỗ đất phía sau lăng Kim Ngọc (tức lăng Trường Mậu) [lăng của chúa Ninh Nguyễn Phúc Thái] rất tốt, định đem hài cốt vợ táng ở đó. Hôm đào huyệt, bỗng có hai con cọp ở bụi rậm nhảy ra, gầm thét vồ cắn, quân giặc sợ chạy. Huệ ghét, không muốn chôn nữa. Sau Huệ đánh trận hay thua, người ta đều nói các lăng liệt thánh [các chúa Nguyễn] khí tốt nghi ngút, nghiệp đế tất dấy. Huệ bực tức, sai đồ đảng đào các lăng, mở lấy hài cốt quăng xuống vực. Lăng Hoàng Khảo ở Cư Hóa [lăng Cơ Thánh của Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long] Huệ cũng sai Đô đốc Nguyễn Văn Ngũ đào vứt hài cốt xuống vực ở trước lăng. Nhà Ngũ ở xã Kim Long bỗng phát hỏa. Ngũ trông thấy ngọn lửa chạy về. Người xã Cư Hóa là Nguyễn Ngọc Huyên cùng với con là Ngọc Hồ, Ngọc Đoài ban đêm lặn xuống nước lấy vụng hài cốt ấy đem giấu một nơi. Đến nay, Huyên đem việc tâu lên. Vua thương xót vô cùng, thân đến xem chỗ ấy, thì vực đã bồi cát mấy chục trượng. Tức thì sai chọn ngày lành làm lễ cáo và an táng lại. Các lăng đều theo nền cũ mà xây cao lên. Ngày Kỷ hợi [1/11/1801], vua thân đến tế cáo, nghẹn ngào sa lệ, bầy tôi đều khóc cả. Sai đổi xã Cư Hóa làm xã Cư Chính, cho dân miễn dao dịch làm hộ lăng. Cho Huyên làm Cai đội (năm Minh Mệnh thứ 11[1830] phong An Ninh bá, lập đền thờ ở núi Cư Chính) con là Ngọc Hồ, Ngọc Đoài tòng quân ở Bình Định cũng được gọi về hậu thưởng cho.” (Thực lục I, tr.466)
Gạt ra ngoài những chi tiết hoa lá cành như hai con cọp trong bụi rậm nhảy ra, đang đào mả thì nhà cháy, v.v., đoạn sử ngắn ngủi do Thực lục ghi lại tiết lộ hai điều quan trọng mà ít người biết đến hoặc biết mà vì một lý do nào đó đã lơ đi hoặc chỉ phớt nhẹ nói qua:
-Thứ nhất, Quang Trung Nguyễn Huệ đã đào hết lăng tẩm của 8 đời chúa Nguyễn tại Thừa Thiên, lấy hài cốt ném xuống sông.
Việc này cộng với việc giết chết vị chúa thứ 9 là Định Vương Nguyễn Phúc Thuần tại Long Xuyên năm 1777 thì quả nhiên vua Gia Long tính sổ 9 đời không sai chậy chút nào. Vì vậy có thể nói được rằng chữ 9 đời có một ý nghĩa rất cụ thể.

Đây là 8 đời chúa Nguyễn:
1.Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613);
2.Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635);
3.Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635-1648);
4.Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687)
5.Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Thái (1687-1691);
6.Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (1691-1725);
7.Chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ (1725-1738);
8.Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765);
Về ông tổ Nguyễn Kim, có lẽ vì không biết đích xác mộ phần nẳm ở đâu trong cái bát ngát của núi Triệu Tường ở Thanh Hóa, nên vua Quang Trung đành phải cho qua mà không tình sổ.

Tám đời chúa Nguyễn này không có hận thù gì với anh em Tây Sơn, đã có công rất lớn đối với dân tộc và đất nước khi kế tục nhau mở nước về phương Nam, đến tận Cà Mau, Châu Đốc, cống hiến cho tổ quốc non một nửa nước, trài dài từ Phú Yên trở vào Nam, với đất đai trù phú, nguồn lợi dồi dào, rộng hơn lãnh thổ nam tiến của các triều Lý, Trần, Hồ và Hậu Lê cọng lại. Không có sự nghiệp này thì hậu thế ngày nay lấy chi để khoe với thế giới rằng “nước ta hình cong như chữ S” với “rừng vàng biển bạc”?!
-Thứ hai: Phần mộ của ông Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long cũng bị quật lên và hài cốt ném xuống sông.
Ông Nguyễn Phúc Côn là con thứ hai của Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, mất năm 1765, khi con là Nguyễn Phúc Ánh đang còn bé. Khi vua Gia Long lên ngôi Hoàng đế (1806) mới truy tôn cha làm Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng Đế, chứ cho đến khi chết dưới tay quyền thần Trương Phúc Loan, ông chẳng làm vua làm chúa gì. Chỉ vì con ông là Nguyễn Phúc Ánh dám chống lại Tây Sơn mà ông đã không được ngủ yên, lâm vào cảnh con làm cha chịu!
Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả cho biết thêm một chi tiết khác:
“Theo truyền thuyết, khi Tây Sơn khai quật hài cốt đức Hưng Tổ ném xuống sông thì một hôm Nguyễn Ngọc Huyên bỏ lưới bắt cá, sau ba lần đều thấy cái sọ nằm trong lưới. Huyên cho là sọ của một vị nào anh linh nên kiếm nơi an táng tử tế. Khi vua Gia Long lên ngôi, đi tìm lại hài cốt của thân phụ, nghe người làng tường thuật, ngài cho đòi Ngọc Huyên bảo chỉ chỗ. Khi đào được sọ lên, vua chích huyết ở tay mình cho giọt vào sọ, sọ liền hút những giọt huyết này (lối thử này cho biết mối liên hệ cốt nhục giữa hai người). (tr.193)
Thực lục có nói khi Nguyễn Ngọc Huyên chết thì được lập đền thờ và phong làm An Ninh bá. Ở thượng lưu sông Hương có một ngôi miếu, tục gọi là miếu Ông Chài, chính là miếu ông Huyên vậy.
Trong văn hóa Việt Nam, phận làm con cháu là phải lo gìn giữ mồ mả tiên tổ cha ông. Do đó chúng ta thông cảm với vua Gia Long chỉ trong 2 tháng sau khi tái chiếm Phú Xuân đã vội vã hoàn tất việc tu sửa lăng mộ bởi khi đã biết tình trạng lăng mộ bị phá tanh banh thê thảm như thế thì không một ai có thể chờ đợi được nữa.
Trong lịch sử Việt Nam, việc tranh giành quyền lực dẫn đến những hành động giết hại nhau tàn nhẫn không phải là hiếm. Điển hình, để cướp ngôi nhà Lý, Trần Thủ Độ không ngần ngại dồn Lý Huệ Tông vào chỗ chết, với ý đồ nhổ cỏ tận gốc, mặc dù Huệ Tông đã biết thân phận, bỏ ngai vàng, vào tu ở chùa Chân Giáo. Đã thế, Trần Thủ Độ còn bày mưu sập bẫy tôn thất Nhà Lý chôn sống trọn gói (may mà Hoàng tử Lý Long Tường nhanh chân thoát qua tị nạn ở Cao Ly, trở thành thuỷ tổ họ Lý của xứ Đại Hàn ngày nay). Nhưng có lẽ trong cuộc tranh chấp quyền lực chưa có ai trong lịch sử phải trả cái giá 5 mạng người ruột thịt và 9 ngôi mộ cha ông tiên tổ tanh banh với xương cốt không biết đâu tìm như trường hợp vua Gia Long trong khi đối đầu với Tây Sơn để phục hồi cơ nghiệp của ông cha đã tốn công xây dựng.
Ở đời, có vay thì có trả. Nợ nào cũng có tính lãi suất, chỉ có khác là nặng hay nhẹ, không hình thức này cũng hình thức khác. Nếu Quang Trung Nguyễn Huệ không tạo nhân ác thì có thể đã không gặp quả ác. Hận thù luôn luôn vẫy gọi thù hận là chuyện thường của thế gian, huống chi lại có yếu tố tranh giành quyền lực trong đó, tham lam và sân hận hẳn phải bốc lên ngùn ngụt.
Phải chăng nên thử tự đặt mình vào địa vị của vua Gia Long để có nhiều thông cảm và có lời phẩm bình phải chăng hơn.

Một vài cảm nghĩ
Là hậu thế, có lẽ không mấy ai vui khi biết sự thật của tấn thảm kịch Nguyễn Quang Trung và Nguyễn Gia Long. Cả hai, đối với chúng ta, đều có chỗ đáng tôn vinh lẫn chỗ bất cập. Riêng ngưởi viết, từ tấn thảm kịch lịch sử này, học hỏi được một đôi điều, xin gọi là chia sẻ.
1/Qua việc điện thư của bạn bè và thân hữu gởi đến tới tấp kèm chuyện “Một ngày lễ Vu lan sầu thảm” của Tịnh Thuỷ,tôi nhận ra rằng té ra loại “lịch sử tiểu thuyết” dễ đi vào lòng người hơn là chính sử khô khan. Đồng ý khi tiểu thuyết hóa lịch sử thì tha hồ cho trí tưởng tượng vẽ vời nhưng cái căn bản của nó xin đừng đổi trắng thay đen. Thực lục ghi rõ vụ hành hình vua tôi anh em Cảnh Thịnh diễn ra ngày giáp tuất tháng 11 năm Gia Long thứ 1 tức ngày 7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802. Làm chi có ngày Vu Lan trong đó? Có lẽ tác giả muốn gây ấn tượng cho ngưởi đọc về sự tàn ác khó dung tha của vua Gia Long nên mới lựa một ngày như thế. Tội nghiệp cho vua! Vua chỉ dự lễ hiến phù, không dự cuộc hành hình, chỉ sai quan thi hành, nên cuộc đối thoại tay đôi giữa vua và bà Bùi Thị Xuân cũng chỉ là cơ hội bày ra để mạt sát thoải mái. Tội nghiệp.
2/Việc cải táng mộ ông Nguyễn Phúc Côn có thể hiểu được, vì tìm được hài cốt và hài cốt này đã được vua Gia Long xác tín rằng đó là di cốt của người đã sinh thành ra ông. Nhưng với 8 chúa thì sao? Sử nói Các lăng đều theo nền cũ mà xây cao lên. Đồng ý là xây lên cao, làm cho to lớn đẹp đẽ hơn xưa, nhưng hài cốt không tìm thấy thì chôn cái gì trong đó? Chẳng lẽ chỉ là một ngôi mộ trống không? Một cái mả gió?
Trong một dịp về thăm Huế sau 7 năm “đi học làm người tốt” (!), tôi được biết sau năm 1975, do đói quá, người ta đã làm bậy. Việc đào trộm mồ mả lăng tẩm giới quyền quí đã xảy ra với ý đồ tìm vàng bạc châu báu tùy táng. Người bạn kể cho nghe (tôi chưa có cơ hội kiểm chứng) khi cụ Vương Hồng Sển, nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng của Miền Nam, biết được kẻ gian đã kiếm được nữ trang trong lăng Hoàng Thái Hậu Từ Dũ (vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức) và đem bán thì cụ đã kêu trời. Dưới cái nhìn cơm áo của kẻ trộm, đó là vàng, tính theo thời giá của chỉ và lượng. Dưới cái nhìn của cụ Vương, đó là đổ cổ vô giá của quốc gia! Nhưng đó không phải là chi tiết tôi quan tâm, vì bảo vật quốc gia người ta bán ra nước ngoài nhiều rồi. Chi tiết lý thú mà tôi nghe được đã giúp tôi hiểu biết thêm và lý giải thắc mắc nêu trên. Chi tiết đó là, bọn kẻ trộm, khi đào đến quan tài của một ông chúa nào đó đã không thấy hài cốt mà chỉ thấy hình người ta bằng gỗ! Điều này xác nhận giả thiết mà tôi đã nghĩ trong đầu nhưng không biết cách nào để kiểm chứng, ấy là tục chiêu hồn nạp táng.

“Chiêu hồn nạp táng là gì?
“Trong gia phả các họ rất chú trọng mục: Mộ táng ở đâu. Trong mục này có một số trường hợp ghi chú: “Chiêu hồn nạp táng”.
Đó là những ngôi mộ không có tử thi, hài cốt, mộ người chết trận, chết đuối hay do thú dữ vồ… không tìm được tử thi. Thân nhân làm hình nhân và làm lễ an táng theo như lễ an táng thông thường.
Được nghe các cụ kể lại rằng: chất liệu làm hình nhân, có địa phương dùng cây núc nác (còn gọi là sò đo thuyền, mộc hồ điệp, nam hoàng bá, bạch ngọc nhi). Núc nác là loại gỗ mềm và xốp, dễ tạo hình, chôn dưới đất lâu hoai, lại dễ kiếm vì mọc ở nhiều nơi. Có địa phương dùng bùn lấy ở giữa dòng sông, có địa phương dùng mùn đào ở giữa ngã tư đường cái.
Hình nhân được đẽo gọt hoặc nhào nặn thô sơ, có đầu mình chân tay là được (vì đa số không phải là nghệ nhân). Kích thước của hình nhân khoảng 30-40 cm chiều dài. Thi hài tượng trưng đó cũng được khâm liệm, đưa vào áo quan làm bằng gỗ vàng tâm, kích thước nhỏ bé, hoặc đưa vào tiểu sành. Trên hình nhân có phủ lên linh vị viết trên giấy kim tuyến, nội dung giống như linh vị đặt ở bàn thờ. Trước khi làm lễ an táng có mời thầy cúng làm bùa ấn phù phép để vong hồn nhập vào hình nhân.
Lễ an táng và các lễ các lễ khác cũng tiến hành như tang lễ thông thường.
3/ Hình như có một nhà tư tưởng nào đó đã nói: “Làm thầy thuốc lầm thì chết một người; làm thầy địa lý lầm thì giết một họ; làm chính trị lầm thì giết một nước, làm làm văn hóa lầm giết cả một đời.”
Dưới ảnh hưởng của môn phong thủy Trung Hoa, người Việt từ vua cho chí dân đều tin rằng âm phần tổ tiên có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mệnh và tương lai của con cháu. Bởi vậy ai cũng mong muốn tìm cho được một huyệt mả tốt để được kết phát, để con cháu được hưởng phước vinh hoa phú quí dài lâu. Bởi vậy, để tận diệt kẻ thù không gì bằng triệt long mạch, phá huyệt mộ, đào mả cha ông nhà người ta lên. Làm thế thì chắc chắn con cháu không thể nào ngóc đầu lên được, lấy gì mà chống trả. Quang Trung Nguyễn Huệ, ngoài việc sử dụng binh lực đánh Nguyễn Vương chạy dài ra biển, trốn qua đến Xiêm La hai lần, vẫn không quên sữ dụng chiêu thức này để hỗ trợ. Và để cho chắc ăn, thà phá lầm hơn bỏ sót, đã không những quật mồ thân sinh vua Gia Long là huyết thống trực hệ mà còn quật mồ cả 8 đời chúa Nguyễn xa lắc. Thật là một sự tính toán chu đáo.
Tuy toan tính chu đáo như vậy nhưng Nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ chỉ tồn tại có 14 năm (1788-1802, 1788 là năm vua Quang Trung đăng quang trước khi ra Bắc phá quân Thanh), trong khi Nguyễn Vương, mặc dầu bị đánh trúng tử huyệt (theo quan niệm phong thủy) nhưng sau 25 năm bền bĩ chiến đấu nhọc nhằn, đã thống nhất đất nước, phục hưng được cơ nghiệp tổ tiên, lập ra triều đại mới, tồn tại 143 năm (1802-1945).
Vậy là thế nào? Chẳng lẽ phong thủy hoàn tòan là một thứ tin mê tín dị đoan? Không, không thể vì vậy mà kết luận phong thủy một cách hồ đổ như thế được. Cái nước Mỹ của khoa học kỹ thuật tiến bộ nhất thế giới này cũng đang chạy theo Feng Shui (Phong thủy) của nền văn minh cổ Trung Hoa, có thua chi Việt Nam xưa và nay đâu, có điều họ chú trọng đến dương cơ hơn âm phần. Như vậy phải có một yếu tố gì khác làm cho độc chiêu do vua Quang Trung phát ra đã không có hiệu quả. Tôi chợt nhớ đến chữ Đức trong câu ca dao
Người trồng cây hạnh người chơi,
Ta trồng cây đức để đời về sau
Trong 8 đời chúa Nguyễn, không thấy ông nào làm điều gì thất đức. Ông nào cũng lo làm cho dân giàu nước mạnh. Lịch sử cuộc nam tiến đi từ Phú Yên đến Cà Mau-Châu Đốc chứng minh điều đó. Hậu thế đã được thừa hưởng biết bao phúc lợi từ sự nghiệp nam tiến đó!
Có 3 ông chúa mang danh hiệu khác người: Chúa Sãi, chúa Hiền, chúa Ngãi. Nghe nôm na và thân tình biết mấy. Nếu cai trị mà không được dân thương mến và biết ơn thì làm chi có những cách gọi kém vương giả nhưng giàu tình cảm như thế?
Có đến 4 ông chúa, ngoài tên và vương hiệu, lại tự xưng là đạo nhân, như Thiên Túng đạo nhân (chúa Minh Nguyễn Phúc Chu), Vân Tuyền đạo nhân (chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ) hay Từ Tế đạo nhân (Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát), Khánh Phủ đạo nhân (Định Vương Nguyễn Phúc Thuần). Đó cũng là một nét đặc biệt.
Nhiều ông chúa xây chùa (chúa Tiên lập chùa Thiên Mụ, Long Hưng, Bảo Châu, Kính Thiên; chúa Hiền lập chùa Túy Vân) hay trùng tu chùa, đúc chuông, thỉnh sư giảng Pháp (chúa Minh).
Có lẽ nhờ biết tu nhân tích đức mà Đức năng thắng số, Số bất cập đức nên tai qua nạn khỏi, như câu tục ngữ mà ông bà xưa thường nói để dạy khôn cho con cháu: Trời hại mới lo, người hại như phấn nhồi. Đó là nói nôm na, cho có vẻ chính xác và minh triết hơn thì đấy chính là nhân quả nghiệp báo. Theo thiển ý, có lẽ hiểu theo cách này mới giải thích được chỗ bất cập của phong thuỷ.

------------------------------------

**Chú thích:
(1) Mãi đến mùa hạ năm 1806 (Bính dần) vua mới chánh thức làm lễ lên ngôi Hoàng đế tại điện Thái Hoà.
(2) Có thể xem: La Relation sur le Tonkin et la Cochinchine, hồi ký của Bissachère viết năm 1807 do Charles B. Maybon biên tập và xuất bản năm 1920, từ trang 118 đến trang 120 trong http://www.archive.org/stream/larelationsurlet00labi#page/n1/mode/2up
(3) Ngày 18 và 19/10/2008 tại Thanh Hóa có một cuộc hội thảo “Đánh giá lại chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn” được phóng viên ghi nhận là “một hội thảo lịch sử”, có lẽ vì phải chuẩn bị tài liệu đến 20 năm và tỉnh Thanh Hóa đã tài trợ gần một tỉ đồng VN để tổ chức, Có hai nhận xét quan trọng được ghi nhận :
“Theo GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, cần có nhận thức mới về nhà Nguyễn trong lịch sử dân tộc trên tinh thần “công minh lịch sử”.
“Tổng kết hội thảo, GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam khẳng định: Cuộc hội thảo lần này đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi không chỉ của giới khoa học mà còn của dư luận xã hội, chứng tỏ những nhận thức trước đây về vai trò của chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử dân tộc theo hướng phê phán và phủ định đã không còn thỏa đáng nữa” (http://www.thethaovanhoa.vn/133N20081020034945468T0/danh-gia-lai-chua-nguyen-va-vuong-trieu-nguyen-mot-hoi-thao-lich-su.htm
(4) Vua Gia Long có một thanh gươm mang tên Qui Y. Sử ghi rằng thanh gươm này có tính ưa giết người (hiếu sát), Tối hôm nào gươm tự động thóat ra khỏi vỏ thì hôm sau thế nào cũng có người phạm tội bị chém bằng thanh gươm đó. Vua Gia Long ghét tính hiếu sát của gươm bèn đem qui y cửa Phật và đặt tên là Qui Y (Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu).
--------------------------------------

***Source: Bài viết của nhà nghiên cứu lịch sử Võ Hương An - Thứ sáu, ngày 03/10/2014
http://reds.vn/index.php/lich-su/vinh-quang-dai-viet/7849-moi-han-cua-vua-gia-long-voi-nha-tay-son 

Friday, September 19, 2014

Hyperfocal Distance Guide

The concept of hyperfocal distance is easy to understand: focus a lens at the hyperfocal distance and everything in the photograph from some near distance to infinity will be sharp. Landscape photographs are often taken with the lens focused at the hyperfocal distance; near and distant objects are sharp in the photos.
Application of the concept leads to many questions: Which lenses are best for using hyperfocal distance focusing? What is the hyperfocal distance for a lens? How do I focus at the hyperfocal distance? Do I have to focus exactly at the hyperfocal distance? In this article we'll look at the basics of using hyperfocal distance to maximize depth of field in a photograph.

Hyperfocal Distance Definition


Hyperfocal distance

When the lens is focused on the hyperfocal distance, the depth of field extends from half the hyperfocal distance to infinity. 
Photography, Phil Davis, 1972.


The hyperfocal distance is the point of focus where everything from half that distance to infinity falls within the depth of field.

John Shaw's Landscape Photography, John Shaw, 1994.

... the hyperfocal distance setting ... is simply a fancy term that means the distance setting at any aperture that produces the greatest depth of field.
How to Use Your Camera, New York Institute of Photography, 2000.


Choosing a Lens

Normal to wide-angle lenses (50mm and shorter lenses on 35mm cameras) are good candidates for hyperfocal distance focusing. These lenses have a relatively short hyperfocal distance when set to larger f-numbers. For example, the hyperfocal distance for a 28mm lens set to f/16 on a 35mm camera is about 5.5 feet. Everything from 2.75 feet to infinity will be sharp in a photograph taken with this lens focused at the hyperfocal distance.
Telephoto lenses are rarely used for hyperfocal distance focusing. The hyperfocal distance is quite distant with these lenses. For example, the hyperfocal distance for a 200mm lens set to f/16 on a 35mm camera is about 275 feet. Everything from about 138 feet to infinity will be sharp in a photograph taken with this lens focused at the hyperfocal distance. You can see that a 200mm lens isn't useful for taking a landscape photograph in which you want near objects to be sharp.


Calculating the Hyperfocal Distance

If you are fortunate enough to have a lens with a depth of field scale, you don't have to calculate the hyperfocal distance. Read the "Focusing on the Hyperfocal Distance" section below to learn how to use the scale.
You can calculate hyperfocal distance with the simple hyperfocal distance equation. It is a function of focal length, f-number, and circle of confusion (or, more precisely, the circle of least confusion.) However, you probably don't want to use the equation when you're out shooting. Instead, you can just use one of the many charts, tables of values, and software that are available. These tools will show the hyperfocal distance for a lens set to a particular f-number.
As stated above, hyperfocal distance is a function of the circle of confusion. You'll likely become bewildered by the many explanations for the circle of confusion. The debate over the "proper" circle of confusion has been raging for more than 70 years and will probably be raging forever.
Discussion of the circle of confusion is beyond the scope of this article. (See "Circle of Confusion" for an in-depth explanation.) However, I suggest that you use 0.030 mm for 35mm film. "Circles of Confusion for Digital Cameras" lists values for many cameras. This circle of confusion calculator is useful for calculating a value for other cameras.
Links to many sources are on the links page of this site. You can find dozens of charts, tables of values, and calculators on the internet by searching for "hyperfocal distance calculator" or "hyperfocal distance chart" on Google.Com.


The DOFMaster Hyperfocal Chart software for Windows operating systems prints hyperfocal distance charts.
The DOFMaster software for Windows operating systems emulates the depth of field scales that used to be engraved on lens barrels. It prints scales (circular slide rules) that you can take into the field. These scales provide a quick and easy way to find the hyperfocal distance for any lens and f-number combination.
The DOFMaster LE program for Palm devices is a easy-to-use program for calculating depth of field and hyperfocal distance in the field. This on-line depth of field calculator also calculates hyperfocal distance.

Focusing on the Hyperfocal Distance

You must focus the lens at the hyperfocal distance after deciding on a lens focal length and f-number combination that yields the hyperfocal distance you need. This is easy to do when the lens has a distance scale and a depth of field scale. But, many modern lenses don't have a distance scale and most don't have useful depth of field scales. Methods for focusing with these lenses are explained below.
It is important to note here that you should not change the focus after the lens has been focused at the hyperfocal distance. When you look though the viewfinder of an SLR camera you'll see that the near objects aren't sharp when the lenses is focused at the hyperfocal distance. The reason is that the lens aperture is wide-open. The depth of field you see in the viewfinder is not that same as that produced by the lens when it stops down to take the picture. You may be able to see what depth of field will be produced by the lens if your camera has depth of field preview.
It is common for beginners to adjust the focus to get near objects in focus when they look through the viewfinder. Have confidence that objects from half the hyperfocal distance to infinity will be acceptably sharp in the photographs and avoid the temptation to change the focus.


Three methods for focusing at the hyperfocal distance are explained below:
  • When the lens has a distance scale and a depth of field scale
    Hyperfocal scale on a lens

    This picture shows the depth of field scale on a lens. There are color-coded indexes for each f-number on each side of the focus index.
    Focusing the lens on the hyperfocal distance for a particular f-number is easy: set the f-number index on one side of the depth of field scale under the infinity symbol on the distance scale. The lens will be focused on the hyperfocal distance for the corresponding f-number. The depth of field will range from half the hyperfocal distance (which can be read from the distance scale at the focus index) to infinity.
    The lens in the picture above is focused on the hyperfocal distance for f/16. The cyan-colored index for f/16 to the left of the focus index is placed under the infinity symbol on the distance scale. The cyan-colored index for f/16 to the right of the focus index is located at about 9 feet on the distance scale. The focus index is at about 18 feet. So, for this example, the hyperfocal distance is about 18 feet, and the depth of field ranges from about 9 feet to infinity when the lens is set to f/16.
    The picture below illustrates how to focus the lens at the hyperfocal distance for f/8 and f/16.
    animated depth of field scale

  • When the lens has a distance scale but doesn't have a depth of field scale
    Hyperfocal scale on a lens

    This picture shows the distance scale on a 28mm-80mm zoom lens for a 35mm camera. The lens is set at the 28mm focal length.
    Follow these steps to focus on the hyperfocal distance with lenses similar to the lens in the picture:
    • Calculate the hyperfocal distance for the lens focal length and aperture. The picture below shows how to use DOFMaster to calculate the hyperfocal distance for the 28mm lens at f/5.6, using 0.025mm for the circle of confusion. Notice that the scales in DOFMaster work in the same manner as the scales on the lens described above. The index for f/5.6 on the right side of the focus index is placed under the infinity symbol. The hyperfocal distance (18 feet) is read from the distance scale at the focus index. The near limit of acceptable sharpness (9 feet) is read from the distance scale at the f/5.6 index to the right of the focus index.
      DOFMaster depth of field scale for a 28mm lens
    • Focus the lens at the hyperfocal distance as shown in the picture. For the 28mm lens at f/5.6, the hyperfocal distance is about 18 feet. The depth of field will range from half the hyperfocal distance to infinity.
    The distance scales on lenses rarely show the exact hyperfocal distance on which you need to focus. For example, the scale shown above shows only 4 feet, 5 feet, 7 feet, 10 feet, 20 feet, and infinity. You must estimate where the hyperfocal distance lies on the scale. See "The Theory of Depth of Field Scales" for a description of how distances are marked on a scale. It's best to focus a little beyond the hyperfocal distance if you aren't sure where the hyperfocal distance is on the distance scale; see "Estimating Hyperfocal Distance in the Field" below for an explanation of why this is so.
  • When the lens doesn't have a distance scale
    Many lenses don't have distance scales. Here's how to focus those lenses at the hyperfocal distance:
    • Calculate the hyperfocal distance for the lens focal length and aperture. The picture below shows how to use DOFMaster to calculate the hyperfocal distance for a 50mm lens at f/16, using 0.025mm for the circle of confusion. The hyperfocal distance for this example is about 21 feet.
      DOFMaster depth of field scale for a 50mm lens
    • Focus the lens on an object (the ground, a tree branch, your ten-year-old child who didn't run when you picked up the camera, etc.) at the hyperfocal distance. Focus a little beyond the hyperfocal distance if you aren't sure of your estimating abilities. Stop down one stop (e.g., estimate for the hyperfocal distance for f/16, and stop the lens down to f/22) to give yourself a little leeway. See "Estimating Hyperfocal Distance in the Field" below for more details.

Measuring Hyperfocal Distance In the Field

You don't have to measure to the hyperfocal distance when your lens has a distance scale. As described above, you can just set the lens focus index opposite the distance on the scale. With other lenses you'll have to measure to the hyperfocal distance so you'll know where to focus. You can also just estimate the distance as described in the next section of this article.
Use of a tape measure is the only accurate way to measure to the hyperfocal distance from the camera position. As you usually won't have a tape measure in the field, you probably can't accurately measure the exact hyperfocal distance. Besides, hyperfocal distance calculated using formulas is just a reasonable estimate for real photographic lenses. The hyperfocal distance equation is derived from the "thin-lens" equation, which assumes a single-element lens with no thickness. It doesn't apply exactly to any real photographic lens.
You don't have to focus the lens exactly at the hyperfocal distance. Focus the lens as best you can, and focus it slightly beyond the hyperfocal distance if you are unsure of your estimating abilities. Say, for example, focus at about 15 feet when the hyperfocal distance is 12.2 feet. Then, stop down one stop (e.g., from f/11 to f/16) to get a little more depth of field. See "Estimating Hyperfocal Distance in the Field" below for more details.
Here are two ways to measure from the camera positon to the hyperfocal distance in the field:
  • Focus a pocket rangefinder on an object at the hyperfocal distance. Then, focus your lens there.
    Laser rangefinders are available but are usually too expensive to buy just for photographic work. Also, most of the laser rangefinders don't measure distances that are commonly used for hyperfocal distance focusing.
    From the 1930s into the 1960s, many vendors made pocket rangefinders that can be used to measure distances. While these rangefinders aren't manufactured today, they can be purchased on eBay for $15-$20US. A Hugo Meyer pocket rangefinder is pictured below. Search eBay for "pocket rangefinder", "pocket range finder", and "Kodak service rangefinder" to look for these devices.
    Pocket rangefinder
  • Use this simple distance meter to measure the hyperfocal distance. It's just a triangular piece of cardboard that you calibrate for your eyes by marking distances on it. Using this device is probably a little better than just estimating the distance.

Estimating Hyperfocal Distance in the Field

You can just estimate the measurement to the hyperfocal distance when your lens doesn't have a distance scale and you don't have a means of measuring to it. Fortunately, the hyperfocal distance is near the camera position for normal and wide-angle lenses. So, you should be able to estimate the distance with sufficient accuracy.
By using your knowledge of the length of many things, you can make some decent estimates of distance in the field. For example, I can estimate distances of about 25 feet and 40 feet with some accuracy because of my familiarity with the width and length of my house. My car is about 12 feet long, so I use that knowledge (e.g., "that's about a car length away") to estimate the focus distance.
Use your best estimate of where the hyperfocal distance is from the camera position and focus your lens there. Then, apply these rules to give yourself some leeway:
  • Everything from at least one-half the focus distance to infinity will be in the depth of field when the lens is focused beyondthe hyperfocal distance.
  • It's better to focus beyond the hyperfocal distance than to focus in front of it when estimating the focus point.
  • Stop down one stop from the f-stop you used to calculate the hyperfocal distance.
Let's see how these rules apply to focusing a lens for hyperfocal distance photographs.
Everything from at least one-half the focus distance to infinity will be in the depth of field when the lens is focused beyond the hyperfocal distance. The actual near limit of acceptable sharpness will be less than 1/2 the focus distance. Say, for example, the hyperfocal distance is 12.3 feet for f/8 and your lens' distance scale shows 7 and 15 feet. Focus the lens at 15 feet. Everything from at least 7.5 feet to infinity will be in the depth of field. Note that for this example you'll have given up, at most, 1.4 feet of the depth of field (15/2 - 12.3/2 = 1.4). Stop down one stop to f/11 to include the extra 1.4 feet in the depth of field.
It's better to focus beyond the hyperfocal distance than to focus in front of it when estimating the focus point. The far objects won't be sharp if you focus in front of the hyperfocal distance. Say you have a 35mm camera with a 50mm lens set to f/8. The hyperfocal distance for this example is 12.2 feet. Everything from at least 7.5 feet to infinity will be sharp when the focus point is 15 feet . The depth of field ranges from about 5.5 feet to 50 feet when the focus point is at 10 feet; objects beyond 50 feet won't be sharp.
Stop down one stop from the f-stop you used to calculate the hyperfocal distance. For example, focus at the hyperfocal distance for f/11 and set the lens f-stop to f/16. Stopping down brings the near distance of acceptable sharpness closer to the camera position. Stopping down will generally give enough extra depth of field to account for any focusing or estimating errors.

Using Hyperfocal Distance in the Field - An Example

Here's how I set the focus point for this photograph of Lake McDonald:
Photograph of Lake McDonald, Glacier National Park
Lake McDonald, Glacier National Park
Copyright 2002 Don Fleming
I didn't have a depth of field scale or hyperfocal distance table for the Canon G2 lens (zoomed to 8mm). However, I knew that at f/8 the hyperfocal distance was something less than 10 feet. So, I set the focus to 10 feet. By focusing beyond the hyperfocal distance I knew two things. First, the depth of field would extend to infinity. Second, everything beyond 1/2 the focus distance (everything beyond 5 feet in this case) would be sharp.
According to the depth of field scale for the G2 lens, the actual depth of field is 3 feet to infinity for the 8mm lens set to f/8 and focused at 10 feet. The hyperfocal distance is 4.5 feet. If I had focused at exactly the hyperfocal distance, the depth of field would have ranged from 2.25 feet to infinity. So, in actual practice I lost about 9 inches of foreground sharpness by focusing at 10 feet. Those 9 inches aren't even in the photograph.

Conclusion

Remember that hyperfocal distance is just a reasonable estimate for actual photographic lenses. Focus a little beyond the hyperfocal distance and you'll know that everything from at least 1/2 the focus distance to infinity will be acceptably sharp in the photo.
The answers to the questions posed in the introduction are:
How do I calculate the hyperfocal distance, or where do I find a table or chart of hyperfocal distances for my lenses? Calculate it using the hyperfocal distance equation, use the DOFMaster calculators (links at left), use one of the many calculators on the internet, or download a chart or table from the internet.
What are the best lenses and f-stops to use? Normal to wide-angle lenses (50mm or shorter lenses for 35mm format) and relatively large f-numbers (small apertures) will yield a hyperfocal distance that is near to the camera.
How do I focus at the hyperfocal distance? Try one of these methods.
How do I focus at the hyperfocal distance when my lens doesn't have a depth of field scale or a distance scale? Try this method.
Do I have to focus exactly at the hyperfocal distance? No. Make your best estimate of where the hyperfocal distance is from the camera position. Focus a little beyond the hyperfocal distance, and everything from at least 1/2 the focus distance to infinity will be acceptably sharp in the photograph. Stop down one stop to give yourself some leeway.
**Source: copied from ~ http://www.dofmaster.com/hyperfocal.html#focusing

 *******************************************